1 vài điểm độc đáo của áo bà ba cho thuê áo bà ba - Phụ nữ đất Bắc có chiếc áo tứ thân, chiếc khăn mỏ quạ, nữ giới Huế có tà áo dài duyên dáng đậm chất tím Huế, thì nữ giới Nam bộ có chiếc áo bà ba với chiếc nón lá & chiếc khăn rằn. Nút áo bà ba cũng trù phú & đổi khác theo mỗi quy trình. trước đó, người ta thường sử dụng kiểu nút áo bản sắc là nút bấm. Nhưng giờ đây, các loại nút đã được sáng tạo thêm phong phú làm tôn thêm điểm nổi bật cho thân áo. Áo bà ba đổi mới ngày nay. trải qua năm tháng, chiếc áo bà ba đã nhiều lần được cải tiến cho phù hợp với sự chuyển động của cơ thể người mặc cũng giống như do sự biến đổi về tư duy thời trang, cho nên có Áo bà ba tân tiến. Chiếc áo bà ba truyền thống được các nhà thời trang cách tân, vừa dân tộc bản địa, vừa đẹp và tân tiến hơn. Vào thập niên 70, các tỉnh, thành hướng phía nam phổ biến kiểu ráp tay raglan, đã hình thành sắc đẹp hiện đại cho chiếc áo bà ba truyền thống. Hai thân áo trước & sau tách rời khỏi vai & tay áo, trong khi tay và áo lại liền từ cổ tới nách. Áo bà ba vai raglan được may rất khít, vừa khít với eo lưng, không thật thắt như kiểu áo trước đó. Tay áo dài ra hơn nữa, hơi loe, hai túi ở vạt ngang trước được bỏ đi để làm cho thân áo nhẹ nhõm, mềm mại hơn. Một phụ kiện đi kèm chiếc áo bà ba là chiếc khăn rằn. Ở miệt vườn, ở miệt Hậu Giang thời Pháp thuộc, cái áo dài nam giới không được thông dụng cho lắm. Kiểu quần áo bà ba là tiện dụng nhứt, đồng thời quần áo bà ba cũng tiêu biểu vượt trội cho việc trang nghiêm trong giới trung lưu... Áo bà ba ngăn nắp và gọn gàng, cởi ra mặc vào thuận tiện, giúp con người đi đứng khoan thai, ít câu thúc". Áo bà ba mở ra trong thơ ca nhiều, trong âm nhạc cũng chẳng ít, nổi tiếng nhất có lẽ là nhạc phẩm "Chiếc áo bà ba" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Lời thơ giản dị và đơn giản, giai điệu nhẹ nhàng êm ái "Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm, thấp thoáng con thuyền nhỏ xíu mong manh..." nhưng để lại trong tim hồn người nghe những cảm giác day dứt, lưu luyến khôn nguôi Đôi khi ở trong nhà đàn bà cũng dùng mỗi áo túi mà dường như không bận áo bà ba phía bên ngoài. nam giới thì mặc áo lá tương tự với áo túi của đàn bà, kích cỡ càng ngắn nữa, không có tay nên hở nách, phía 2 bên bụng cũng may hai túi. phía bên ngoài mặc áo bà ba. Áo túi và áo lá từ thập niên 1950 trở đi lùi dần, không còn dùng để làm áo lót nữa. Sang vào đầu thế kỷ 20 thì áo bà ba mới may túi ở 2 vạt trước[1] tiện dụng cho việc đựng những vật dụng nhỏ như thuốc rê, diêm quẹt, tài lộc.... . Áo bà ba mở ra vào nửa vào đầu thế kỷ 19, được Trương Vĩnh Ký đổi mới từ áo của cư dân đảo Pénang, Malaysia (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người việt nam. Theo nhà văn Sơn Nam, “Bà Ba là kẻ Mã Lai lai China. Chiếc áo bà ba mà người khu vực miền nam ưa thích, vạt ngắn không bâu đó chính là kiểu áo của người Bà Ba.” Hai giả thuyết trên có chỗ cần xem lại sau: cụ thể “áo do Trương Vĩnh Ký cách tân” hoàn toàn có thể là sai, chính vì trong Từ điển Pháp Việt (Dictionnaire Francais-Annamite, NXB TP HCM 1937) của Trương Vĩnh Ký, người sáng tác không thể nhắc tới “áo bà ba”, như thế làm sao do Trương Vĩnh Ký cải tiến được. Bài viết liên quan: http://www.shopchothuetrangphuc.com/tin-tuc/dia-chi-thue-ao-dai-bung-qua-o-sai-gon.html Chữ “Bà Ba” hoàn toàn có thể khởi đầu từ chữ “baba” (“Baba” có xuất xứ từ ngôn ngữ Hindustani, nhóm ngôn từ & thổ ngữ Ấn Độ, kể cả tiếng Urdu & Hindi.) trong ngôn ngữ Malaysia – một chữ vay mượn từ ngôn từ Ba Tư, nhưng đấy là chữ dùng để làm gọi “người nam giới, ông nội, ông lão, ngài,” có nghĩa là dùng để chỉ phái mạnh chứ chưa phải một sắc tộc.